Giá trị của siêu âm trong 3 tháng đầu chẩn đoán nhau xâm lấn bất thường ở thai phụ nguy cơ cao có nhau tiền đạo

CLS: Chẩn đoán trước sanh bệnh lý teo hẹp thực quản
21/03/2019
“Vấn đề là ở cái bàn đạp” – Prof. Mark Sklansky
21/03/2019

Giá trị của siêu âm trong 3 tháng đầu chẩn đoán nhau xâm lấn bất thường ở thai phụ nguy cơ cao có nhau tiền đạo

592 lượt xem

Giá trị của siêu âm trong 3 tháng đầu chẩn đoán nhau xâm lấn bất thường

ở thai phụ nguy cơ cao có nhau tiền đạo
Tác giả: Cali G. và cộng sự Người dịch: ThS. BS. Nguyễn Đình Vũ

Việc tăng tỉ lệ mổ sanh trong vòng 2 thập kỉ gần đây dẫn đến việc tăng tần suất bánh nhau xâm lấn bất thường (AIP – abnormally invasive placenta). AIP bao gồm 1 chuỗi bất thường đặc trưng bởi nhiều mức độ xâm lấn khác nhau của bánh nhau vào trong cơ và thanh mạc tử cung. Nó cũng liên quan đến những tai biến nặng nề cho sản phụ như băng huyết đe dọa tính mạng, cần truyền máu hoặc cần phẫu thuật lại và tổn thương các tạng lân cận. Chẩn đoán sớm AIP được ghi nhận là có thể cải thiện kết cục bằng việc chủ động điều trị ở những trung tâm có khả năng thực hiện phẫu thuật phức tạp. Mặc dù AIP thường được chẩn đoán trong 3 tháng giữa và cuối, có những báo cáo cho thấy ở 3 tháng đầu đã có xuất hiện những dấu hiệu để gợi ý.

 

Nghiên cứu hồi cứu được thực hiện bởi G.Cali và cộng sự thu nhận thông tin của những phụ nữ nguy cơ cao của AIP ở 1 trung tâm từ năm 2007 đến 2017. Nghiên cứu thu nhận các thai phụ có tuổi thai từ 11-14 tuần được có tiền căn mổ sanh ít nhất 1 lần và nhau tiền đạo. Hai nghiên cứu viên (G.Cali và F. D’Antonio), không biết về kết cục thai kì mà chỉ phân tích các hình ảnh được lưu trữ một cách độc lập và đánh dấu phân loại hình ảnh theo các dấu hiệu gợi ý của AIP.

 

Kết quả:

 

• 188 phụ nữ với nhau tiền đạo và ít nhất 1 lần mổ sanh được thu nhận. Tần suất của AIP là 44.2%(95% CI, 37.2-51.3%); trong các loại AIP thì nhau cài răng lược dạng accreta/increta chiếm 54.2%(95% CI, 44.6-64.5%) trong khi nhau cài răng lược percreta chiếm 45.8% (95% CI, 35.5-56.5%) trường hợp.

 

• Dấu hiệu mất ranh giới có độ chính xác cao, với độ nhạy 84.3%(95% CI, 74.7–91.4%), đặc hiệu 81.9% (95% CI,73.2–88.7%), hồ huyết bánh nhau và mất liên tục niêm mạc bàng quang có độ nhạy lần lượt là 78.3% (95% CI, 67.9–86.6%) và 75.9% (95% CI, 65.3–84.6%), độ đặc hiệu lần lượt là 81.0% (95%CI, 72.1–88.0%) và 99.1% (95% CI, 94.8–100.0%). Dấu hiệu tăng sinh mạch máu giữa cơ tử cung và bàng quang đơn độc có độc nhạy thấp nhất ( 50.6% (95% CI, 39.4–61.8%)) nhưng độ đặc hiệu cao (100% (95% CI, 96.6–100%)) trong chẩn đoán AIP lúc 11–14 tuần.

 

Hình 1 : Dấu hiệu của nhau xấm lấn bất thường ở 3 tháng đầu thai kì (11-14 tuần) (a) Siêu âm ngả bụng, cho thấy nhau tiền đạo mặt trước (P), trong đó vài vùng phản âm kém (hồ huyết) có thể thấy trong nhu mô (mũi tên) và những bề mặt không đều nằm dưới tấm nề của nhau (mất ranh giới) xuất hiện (mũi tên không liên tục) cũng như sự mất liên tục của đường phản âm kém giữa thanh mạc tử cung và lòng bàng quang (BI) (đầu mũi tên). (b) Siêu âm ngả bụng thai 13 tuần cho thấy nhau phủ trên lỗ trong cổ tử cung (nhau tiền đạo trung tâm), trong đó có vài hồ huyết (mũi tên) và có sự mất liên tục của thành bàng quan. (c) Doppler màu, cho thấy hiện diện của dòng máu trong hồ huyết (mũi tên không liên tục). (d) Doppler màu, cho thấy dòng máu ở trên thành bàng quang (mũi tên); vùng phản âm kém mặt sau bánh nhau cũng không liên tục (đầu mũi tên). C, cổ tử cung

 

• Cuối cùng, tác giả thấy rằng khi kết hợp của các dấu hiệu siêu âm có thể cho độ chính xác tối ưu nhất trong đánh giá các dạng AIP. Khi kết hợp dấu hiệu mất ranh giới với dấu hiệu hồ huyết bánh nhau hoặc dấu hiệu mất liên tục niêm mạc bàng quang cho chẩn đoán tốt nhất với độ nhạy lần lượt là 78.3% (95% CI, 67.9–86.6%) và 75.9% (95% CI, 65.3–84.6%), và độ đặc hiệu của hai sự kết hợp này là 100% (95% CI, 96.6-100%).

 

Riêng việc đánh giá AIP dạng percreta thì khi kết hợp hai dấu hiệu trên có độ nhạy lần lượt là 81.6% (95% CI, 65.6–92.3%) và 89.5% (95% CI, 75.2–97.1%), độ đặc hiệu lần lượt là 77.3% (95% CI, 69.8–83.8%) and 80.7% (95% CI, 73.4–86.7%).

 

Dựa vào kết quả nghiên cứu tác giả đã cho thấy rằng việc chẩn đoán AIP trong 3 tháng đầu ở thai phụ nguy cơ cao bằng siêu âm ở thai 11-14 tuần có giá trị độ chính xác tốt. Và siêu âm có khả năng nhận diện được khoảng 90% trường hợp có cài răng lược percreta, là loại nhau xâm lấn và thường gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm so với loại accreta/increta. Đây là một điểm mới vì đa số các nghiên cứu trước đây thường tập trung ở 3 tháng giữa và 3 tháng cuối.

 

Tuy nhiên một vấn đề đặt ra là làm cách nào để tìm ra những phụ nữ có nguy cơ cao để đánh giá bằng siêu âm khi mà chẩn đoán nhau tiền đạo ở 3 tháng đầu thường không đáng tin cậy. Vì vậy cần những nghiên cứu lớn hơn để đánh giá thêm về vấn đề này./.

 

Nguồn: Cali G. et al (2018) “Diagnostic accuracy of first-trimester ultrasound in detecting abnormally invasive placenta in high-risk women with placenta previa” Ultrasound Obstet Gynecol. 2018 Aug;52(2):258-264). PMID: 29532529. DOI: 10.1002/uog.19045