Ứ dịch tử cung âm đạo (hydrometrocolpos)

Chẩn đoán trước sanh bệnh lý teo thực quản: Ca lâm sàng
08/11/2018
Chương trình chi tiết hội nghị siêu âm toàn quốc lần 3, 11-12/01/2019 tại Hà Nội
08/12/2018

Ứ dịch tử cung âm đạo (hydrometrocolpos)

842 lượt xem

Ứ DỊCH TỬ CUNG ÂM ĐẠO (HYDROMETROCOLPOS)
BS Nguyễn Xuân Lan- BS Hà Tố Nguyên
Khoa Chẩn đoán hình ảnh – Bệnh Viện Từ Dũ

 

Download file PDF

 

Ứ dịch tử cung âm đạo bẩm sinh là bệnh lí hiếm găp trong khối u vùng chậu thai nhi. Chẩn đoán được trước sinh rất quan trọng giúp tư vấn tốt trước sinh và lên kế hoạch điều trị sau sinh cho trẻ. Chúng tôi xin được báo cáo hai trường hợp ứ dịch tử cung âm đạo bẩm sinh được chẩn đoán trước sinh tại bệnh viện Từ Dũ.

 

CA 1

Sản phụ NTYl 35 tuổi para 1001, đến khám tại viện lúc thai  32 tuần 2 ngày vì phát hiện bất sản một thận ngoại viện. Siêu âm tiền sản tại bệnh viện Từ Dũ phát hiện có một cấu trúc phản âm kém nằm sau bàng quang có hai động mạch rốn chạy dọc hai bên và liên tục với bàng quang, kích thước # 66 x44x70 mm (hình 1-2) và bất sản thận phải (hình 3). Với các bất thường này trên một bé gái chúng tôi nghĩ đây là một trường hợp ứ dịch tử cung âm đạo nghi do bít đường sinh dục. Sản phụ được tư vấn làm thêm MRI để loại trừ nhóm bệnh lý tồn tại ổ nhớp và chọc ối để loại trừ bất thường nhiễm sắc thể kèm theo.

 

Hình 1: Trên mặt cắt ngang:khối echo kém đơn thùy (mũi tên) nằm sau bàng quang (ngôi sao)

 

Hình 2: Trên mặt cắt dọc: khối này có dạng hình phễu (mũi tên)

 

Hình 3: khi phổ Doppler không thấy động mạch thận phải và thận phải (mũi tên)

Video siêu âm ca 1

 

 

Kết quả MRI: cấu trúc dạng nang giữa bàng quang và tử cung nghi ứ dịch tử cung âm đạo có thể do bít màng trinh, vách ngăn ngang âm đạo và nghi ngờ có đường rò tử cung – bàng quang

Hình ảnh MRI

 

 

Hình 4: A, T2W sagittal cấu trúc chứa dịch (mũi tên), nằm sau bàng quang (*) được nghĩ là tử cung và âm đạo bị ứ dịch. Giữa hai khối này nghi ngờ có đường thông (đầu mũi tên). Khối này sau sinh được xác định là tử cung ứ dịch. B, T1W sagittal quan sát thấy trực trang (đầu mũi tên) nằm phía sau cấu trúc này và trực tràng, không có sự thông thương với khối này giúp loại trừ nhóm bệnh lý ổ nhớp

Sản phụ sinh thường lúc thai 36 tuần 6 ngày, cân nặng 3000g. Sau 1 tháng bé được phẫu thuật , chẩn đoán sau mổ: ứ dịch tử cung do vách ngăn âm đạo kèm thận (P) teo nhỏ, lạc chỗ.

 

CA 2

Sản phụ  THL 28 tuổi, para 0000, được chuyển tuyến lên Từ Dũ lúc thai 32 tuần 5 ngày vì thai có khối u bất thường ở ổ bụng. Siêu âm tại bệnh viện Từ Dũ phát hiện: bất sản thận trái, một cấu trúc phản âm kém nằm sau bàng quang có hai động mạch rốn chạy dọc hai bên và liên tục với bàng quang, kích thước: 62 x 31 mm. Nước ối bình thường, các quai ruột không dãn, có nếp hậu môn. Chúng tôi chẩn đoán : theo dõi tật bít màng trinh chưa loại trừ tồn tại ổ nhớp.

 

Hình 5: Trên mặt cắt ngang : khối echo kém nghĩ ứ dịch tử cung âm đạo (mũi tên) nằm sau bàng quang (ngôi sao)

 

 

Hình 6: Trên mặt cắt dọc: khối echo kém dạng hình phễu (mũi tên)

 

 

Hình 7:Trên mặt cắt ngang: nếp hậu môn (mũi tên)

 

Hình 8: phổ doppler màu không thấy động mạch thận trái và thận trái (mũi tên)

Video siêu âm ca 2

 

 

Sản phụ được chụp MRI cùng ngày, chẩn đoán : bất sản thận trái và ứ dịch âm đạo.

 

Hình 9: Hình ảnh MRI: tương tự ca thứ nhất tử cung ứ dịch (mũi tên), bàng quang (ngôi sao) và trực tràng (đầu mũi tên).

Sản phụ được chọc ối làm karyotpe, kết quả bình thường, XX.
Sản phụ sinh thường lúc thai 38 tuần , bé gái nặng 3200g. chẩn đoán sau sinh: bất sản thận trái và ứ dịch tử cung âm đạo do màng trinh không thủng

 

Tóm lược hai trường hợp trên, chúng tôi thấy có những đặc điểm sau:

 

 

 

GIỚI THIỆU

Ứ dịch tử cung âm đạo là một dị tật hiếm, xảy ra khoảng 1/16000 trẻ sinh ra. Nó có thể đơn thuần hoặc phối hợp với những bất thường khác cũng như hội chứng khác như Klippel-Feil anomaly, McKusick-Kaufman syndrome, Ellis van Creveld syndrome, and Bardet-Biedl syndrome…
Ứ dịch tử cung âm đạo được định nghĩa là sự dãn ra của tử cung và âm đạo do tích tụ dịch tiết đi kèm sự tắc nghẽn do bất thường âm đạo. Sự tắc nghẽn thoát dịch âm đạo có thể do vách ngăn ngang âm đạo, bất sản âm đạo hoặc màng trinh không thủng. Dịch trong lòng tử cung và âm đạo được tạo ra do sự tiết dịch nhầy của những tuyến tại vùng cổ tử cung và tử cung từ sự kích thích của hormon estrogen của mẹ .

Thuật ngữ: Hydrocolpos khi chỉ có sự dãn ra của âm đạo. Hydrometrocolpos khi kèm theo sự dãn ra của tử cung.

 

CHẨN ĐOÁN TRƯỚC SINH

Chẩn đoán trước sinh với một khối u dạng nang do dãn tử cung và âm đạo thì khó vì có nhiều chẩn đoán cần phân biệt và ngoài ra triệu chứng bệnh xuất hiện trễ thường ở 3 tháng cuối và hình ảnh không đặc hiệu.
Hình ảnh ứ dịch tử cung âm đạo rất đa dạng. Có thể là thể nhẹ, khó phát hiện cho đến khi bé gái đến tuổi dậy thì do triệu chứng vô kinh hoặc có thể là một khối lớn hình tròn hay dạng phễu nằm sau bàng quang với độ hồi âm thay đổi tùy thuộc vào bản chất thành phần dịch bên trong. Trong một số trường hợp, ứ dịch tử cung âm đạo có thể thấy gần như khối dạng mô đặc do thành phần là dịch nhầy (mucus). Vì vậy dùng thuật ngữ “mucometrocolpos” đúng hơn so với “hydrometrocolpos”. Các bất thường có thể kèm như: bất thường niệu dục, đa ngón, bất thường hậu môn- trực tràng và dị tật tim.
Mặc dù siêu âm có thể phát hiện dễ dàng khối lớn bất thường vùng chậu nhưng nguồn gốc thì khó xác định trong nhiều trường hợp. Do đó có những chẩn đoán phân biệt:

 (1) U nang buồng trứng: là một khối đơn thùy, echo kém và thường lệch một bên hố chậu và không kéo dài đến đáy chậu

 (2) Nang niệu dục: là một khối đơn thùy nằm giữa bàng quang và dây rốn, cũng có mạch máu bao quanh nhưng nó có thể thay đổi kích thước theo chu kỳ căng xẹp của bàng quang do có đường thông với bàng quang

(3) Thoát vị màng não vùng xương cùng ra trước: rất hiếm với khối echo trống kéo dài từ xương cùng đến bàng quang.

(4) Bướu quái cùng cụt: type IV: khối nằm hoàn toàn nằm trong ổ bụng, trước xương mu, phản âm hỗn hợp do có thành phần mô đặc, dịch, mô mỡ, xương và kèm tăng sinh mạch máu.

 

MRI hiện nay được thừa nhận là phương tiện chẩn đoán hình ảnh thai nhi có giá trị giúp chẩn đoán cuối cùng nhóm bệnh lý này.Trên siêu âm tiền sản rất khó phân biệt được bàng quang, tử cung và âm đạo bị ứ dịch nhưng MRI có thể làm được. MRI có thể phân biệt được tử cung, âm đạo và trực tràng nhờ chuỗi xung T1. Đặc biệt MRI có thể nhận ra sự liên tục của khối bất thường này với những cơ quan khác. Do vậy sẽ giúp chẩn đoán loại trừ bệnh lý ổ nhớp, một nhóm bệnh lý phức tạp do sự hình thành một kênh chung bao gồm: niệu đạo, âm đạo và hậu môn. Sự tắc nghẽn thoát lưu dịch dịch tiết của đường niệu, đường sinh dục và đường ruột sẽ gây dãn những cấu trúc ở đoạn gần như ứ dịch tử cung và âm đạo, trướng nước hai thận, dãn đại trực tràng sigmoid.

 

Điều trị ứ dịch tử cung âm đạo là dẫn lưu khối dịch và tạo liên kết biểu mô âm đạo với âm hô. Đối với màng trinh không thủng và bất sản âm đạo thấp, thì tạo hình âm đạo qua đáy chậu là thích hợp. Còn bất sản âm đạo cao thì nên tạo hình âm đạo đường tầng sinh môn kết hợp đường bụng.

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Hill SJ, Hirsch JH. Sonographic detection of fetal hydrocolpos. J Ultrasound Med 1985;4:323–5.
2. Chen CP, Liu FF, Jan SW, et al. Ultrasound guided fluid aspiration and prenatal diagnosis of duplicated hydrometrocolpos with uterus didelphys and sep- tated vagina. Prenat Diagn 1996;16:572–6.
3. Hung YH, Tsai CC, Ou CY, et al. Late prenatal diag- nosis of hydrometrocolpos secondary to a cloacal anomaly by abdominal ultrasonography with com- plementary magnetic resonance imaging. Taiwan J Obstet Gynecol 2008;47:79–83.
4. Yildrin G, Gungorduk K, Aslan H, et al. Prenatal diag- nosis of imperforate hymen with hydrometrocolpos. Arch Gynecol Obstet 2008;278:483–5.
5. Y. H. Hung, C. C. Tsai, C. Y. Ou, B. H. Cheng, P. C. Yu, and T. Y. Hsu, “Late prenatal diagnosis of hydrometrocolpos secondary to a cloacal anomaly by abdominal ultrasonography with complementary magnetic resonance imaging,” Taiwanese Journal of Obstetrics and Gynecology, vol. 47, no. 1, pp. 79–83, 2008.