Vai trò của chương trình hợp tác Việt – Pháp trong ngành chẩn đoán hình ảnh Việt Nam

Lịch sử và sự phát triển của ngành siêu âm chẩn đoán tại Việt Nam (1986-2016)
27/03/2019
Ca lâm sàng sản khoa: Bất thường phức hợp cơ thể
10/05/2019

Vai trò của chương trình hợp tác Việt – Pháp trong ngành chẩn đoán hình ảnh Việt Nam

497 lượt xem

VAI TRÒ CỦA CHƯƠNG TRÌNH HỢP TÁC VIỆT-PHÁP

TRONG NGÀNH CHẨN ĐOÁN HÌNH ẢNH VIỆT NAM

BS NGUYỄN QUÝ KHOÁNG*

 

File PDF

 

I-MỤC ĐÍCH

 

Tiếp theo bài “Lịch sử Hội ĐQ và YHHN Việt Nam” do GS-TS Phạm Minh Thông, Chủ tịch Hội Điện quang và Y học hạt nhân Việt Nam phát biểu trong hội nghị ĐQ và YHHN toàn quốc lần thứ XX được tổ chức tại Hà Nội ngày 19 và 20 tháng 8 năm 2018, tôi đề nghị chúng ta cùng nhau ôn lại vai trò của chương trình hợp tác Việt-Pháp trong Y khoa Việt Nam và xem nó ảnh hưởng thế nào đến ngành CĐHẢ của chúng ta.

 

 

II-NGUỒN GỐC CỦA CHƯƠNG TRÌNH HỢP TÁC PHÁP-VIỆT TRONG Y KHOA

 

Theo GS-BS Trần Đông A, năm 1988, cố GS Francois De Paillerets, nguyên khoa trưởng Đại học Y Khoa Xavier Bichat Paris đã qua dự Hội nghị về sức khỏe bà mẹ và trẻ em tại bệnh viện Nhi đồng 2 (bệnh viện Grall cũ) và đã gặp cố Viện sĩ-TS-BS Dương Quang Trung, lúc đó đang là Giám đốc Sở Y Tế Tp HCM kiêm Hiệu trưởng Trung tâm đào tạo và bồi dưỡng CBYT (CUF= Centre universitaire de formation des professionnels de Santé), nay là ĐHYK Phạm Ngọc Thạch.

 

Cả hai đã nhận định Y tế Việt Nam đang trong tình trạng cực kỳ khó khăn vì lúc đó, Việt Nam còn bị bao vây cấm vận, chẳng những do thiếu trang thiết bị, thuốc men mà còn do thiếu kiến thức Y khoa hiện đại. Từ đó, hai ông đã ký kết sơ khởi một chương trình phối hợp đào tạo giữa Sở Y tế Paris và Sở Y tế thành phố HCM. Chương trình được thử nghiệm đầu tiên với ngành Nhi khoa bằng cách tuyển chọn 2 bác sĩ trẻ thuộc bộ môn Nhi của ĐHYK Phạm Ngọc Thạch (BS Trần thị Mộng Hiệp) và ĐHYD thành phố Hồ Chí Minh (BS Huỳnh thị Duy Hương) đi tiên phong làm nhiệm vụ nội trú (FFI= Faisant Fonction d’Interne) tại các trung tâm trường-viện (CHU= Centre Hospitalo-Universitaire) ở Paris trong niên khóa 1989-1990.

 

Năm 1990, sau chuyến viếng thăm của BS Bernard Kouchner, quốc vụ khanh phụ trách nhân đạo của Cộng Hòa Pháp, một chương trình hoàn chỉnh đặt tên là chương trình Grall bao gồm việc tái thiết bệnh viện Nhi đồng 2 với các trang thiết bị hiện đại cho khu phòng mổ và hồi sức và chương trình FFI để đào tạo các bác sĩ Nhi khoa được ký kết giữa Sở Y tế Paris và Sở Y tế thành phố Hồ Chí Minh.

 

Năm 1993, sau chuyến viếng thăm của tổng thống Pháp Francois Mitterand, chương trình FFI đã được nhân rộng cho các chuyên ngành khác như Ngoại khoa, Gây mê hồi sức, Sản phụ khoa, Nội khoa, Tai Mũi Họng, Chẩn đoán hình ảnh v…v và một văn bản chính thức đã được ký kết giữa hai chính phủ vào tháng 2 năm 1993.

 

Nếu nói rằng Viện sĩ Dương Quang Trung là cầu nối cho sự hợp tác Việt Pháp về Y khoa nói chung thì GS Hoàng Kỷ cùng các Ban Chấp hành Hội Điện quang và Y học hạt nhân Việt Nam của nhiều nhiệm kỳ từ 1990 đến nay cũng như Bộ môn CĐHẢ của hai trường Đại học Y Hà Nội và ĐHYK Phạm Ngọc Thạch Tp HCM đã cố gắng củng cố sự hợp tác này. Các cá nhân được giao trách nhiệm phụ trách việc này:Về phía Pháp, lúc đầu là GS Philippe Devred, sau đó là GS Michel Panuel. Còn về phía VN, ở miền Bắc là PGS Nguyễn Duy Huề sau đó là GS Phạm Minh Thông, ở miền Trung lúc đầu là PGS Hoàng Minh Lợi, sau đó là PGS Lê Trọng Khoan, ở miền Nam là BS Nguyễn Qúy Khoáng.


VS-TS-BS Dương Quang Trung (1928-2013). GS Hoàng Kỷ (1929-2015)

 

 

Chương trình, chưa có tiền lệ, bao gồm các hoạt động trải dài trên hai niên khóa đại học: 11 tháng tại thành phố Hồ Chí Minh hoặc thủ đô Hà Nội và 13 tháng tại Pháp (ở Paris hay một tỉnh khác).

 

A-Chương trình 11 tháng tại Việt Nam gồm 2 học phần:

 

1/ Đào tạo và tuyển lựa do các GS CĐHẢ Pháp: Mỗi năm, có 3 đợt huấn luyện, mỗi đợt gồm hai GS Pháp thuộc các chuyên khoa sâu khác nhau như: CĐHẢ hệ thần kinh, hệ hô hấp, hệ tiêu hóa gan-mật, hệ tiết niệu-sinh dục, hệ cơ-xương-khớp, Nhi khoa. Hai GS giảng trong 4 tuần liên tiếp chia ra cho 2 thành phố lớn: Hà Nội và Tp Hồ Chí Minh. Các giáo sư này đều là hội viên của tổ chức GREF (Groupe des Radiologues Enseignants d’expression Francaise) và được GREF phân công qua Việt Nam.


Lễ tiễn và tặng quà cho 2 GS P.Dosseur (người đứng ngoài bìa bên phải) và D.Sirinelli (người thứ 4 tính từ bên phải) sau đợt giảng và tuyển các bác sĩ đi làm FFI (tại ĐHYK Phạm Ngọc Thạch Tp HCM năm 2001).Người thứ 3 từ bên phải là BS Nguyễn Anh Tuấn, hiện là TổngThư ký Hội CĐHẢ Tp HCM.

 

Sau 2 tuần lễ giảng dạy hoàn toàn bằng tiếng Pháp, không có thông dịch, các GS cho thi viết và thi vấn đáp. Các BS học viên nào có điểm cao nhất sẽ được tuyển.
Ở mỗi miền: Bắc, Trung, Nam, có khoảng 2 đến 3 bác sĩ được chọn đi FFI mỗi năm.

 


Năm 2004, GS J.M.Tubiana đã đến Hà Nội giảng dạy và tuyển chọn các bác sĩ trẻ Việt Nam đi làm nội trú tại Pháp.

 

2/ Bồi dưỡng tiếng Pháp

 

2a- do các giáo sư ngoại ngữ của Hiệp hội trường học Không biên giới của Pháp (sau này do IDECAF) phụ trách.

 

2b- Thật ra, trong miền Nam, ngày từ khi các sinh viên đậu kỳ thi tuyển vào năm thứ nhất Y khoa tại Trung Tâm đào tạo CBYT (nay là ĐHYK Phạm Ngọc Thạch), các em đã được chọn học sinh ngữ Anh hay Pháp. Trường đã lập 2 phòng “lab”về sinh ngữ với đầy đủ phương tiện nghe nhìn để các em đến luyện nghe và nói khi không có tiết học Y. Trong chương trình học, các em được học tiếng Pháp hàng tuần từ năm Y1 đến Y6 và trình luận văn bằng tiếng Pháp vào cuối năm Y6.

 

Viện sĩ Dương Quang Trung (người đứng giữa) chụp hình kỷ niệm với các sinh viên Y6 trong ngày trình luận văn bằng tiếng Pháp tại ĐHYK Phạm ngọc Thạch

 

 

B-Chương trình 13 tháng tại Pháp cũng gồm 2 học phần:

 

1/ Một tháng trong một gia đình tự nguyện người Pháp nhằm mục đích đào tạo cho các nội trú tương lai thích hợp với lối sống của người Pháp trước khi nhận nhiệm vụ trong các trung tâm Trường-Viện (CHU), thường bắt đầu vào tháng 10 hàng năm. Phụ trách việc điều phối này là Hội bạn hữu Công giáo Việt Nam- Cam Bốt- Lào (Fraternité Chrétienne avec le Viêt Nam- Cambodge- Laos) mà Chủ tịch hội của Pháp quốc là Bà Veronica Turpin (đã mất) và Chủ tịch vùng Bretagne là Ông Henri Lê Tuệ (đã mất). Nhiệm vụ của Hội này như sau:

a/ Đón đoàn FFI VN từ phi trường Charles de Gaulle đưa về trụ sở ở Paris.
b/ Chiêu đãi bữa cơm trưa VN tại Paris.
c/ Họp mặt buổi chiều:
– Hỗ trợ mua bảo hiểm Y tế cho nửa tháng đầu chưa đi làm (15-31/10).
– Hỗ trợ sinh hoạt phí (700 Euros/ BS cho nửa tháng đầu chưa đi làm).
– Tổ chức người đưa ra sân gare, mua vé TGV cho FFI về các tỉnh.

 


Hội bạn hữu Công giáo Việt Nam-Cam Bốt-Lào tổ chức cho các BS FFI đi thăm vùng Bretagne tại Pháp năm 2004. Người đứng thứ 5 tính từ bên trái ở hàng đầu là BS Nguyễn Quang Trọng hiện là tổng thư ký của Hội Siêu âm Việt Nam (VSUM)

 

2/ 12 tháng làm nhiệm vụ nội trú, người BS học viên được đào tạo cả về lý thuyết lẫn thực hành và hoàn tất chứng chi đào tạo chuyên khoa (AFS= Attestation de formation spécialisée). Các BS FFI có lương tháng khá hậu hĩnh (nếu so sánh với lương của BS tại Việt Nam cùng thời đó). Sau vài năm trở về Việt Nam công tác, BS học viên có thể được mời qua Pháp lần 2 để hoàn tất chứng chỉ đào tạo chuyên khoa sâu (AFSA= Attestation de formation spécialisée approfondie) còn gọi là FFI cấp 2 (FFI 2e niveau) với thời gian từ 6 tháng đến 1 năm.

 

Vì vậy, năm thứ nhất trải qua tại thành phố Hồ Chí Minh (gồm cả các BS từ Nha Trang đến các tỉnh ở miền Tây Nam Bộ) hoặc Hà Nội (gồm cả các BS từ Đà Nẵng ra đến các tỉnh miền Bắc) làm cho năm thứ hai tại Pháp trở nên hiệu quả hơn.

 

Các tân nội trú mau chóng hòa nhập vào các công tác tại các bệnh viện tại Pháp hơn những đồng nghiệp tiền nhiệm khi chưa có chương trình này.


BS Trần Vĩnh Nguyên Dung (ở giữa) làm việc tại khoa CĐHẢ của CHU Nord de Marseille do GS Michel Panuel (ở bìa bên phải) phụ trách năm 2008.

 


BS Hồ Hoàng Thảo Quyên ( hàng 1, bìa ngoài bên trái) chụp chung với toàn khoa của GS Guy Frija (hàng 1, người ngồi ngay giữa) tại Hôpital Européen Georges Pompidou (HEGP) năm 2010.

 

Như thế, chương trình này đã đáp ứng tốt những yêu cầu và mong muốn cải thiện chất lượng của các bác sĩ trẻ Việt Nam đã được đề ra trong nghị quyết của Đại Hội VI. Chính vì thế mà lập tức đã có những tiếng vang nhất định trong dư luận quần chúng: Những cuộc phỏng vấn về chương trình, về hoạt động cùng hình ảnh các giáo sư Pháp đang giảng dạy xuất hiện liên tục trên các trang nhất của nhiều báo chí Việt Nam ngay từ khi chương trình FFI bắt đầu. Xin đơn cử theo thứ tự thời gian:

 

– Phỏng vấn GS-BS Trần Đông A ngay khi từ Pháp trở về với hình ảnh của GS A.Bourillon và C.Olivier ngày 15 tháng 12 năm 1990.

 

– Phỏng vấn VS-TS-BS Dương Quang Trung, người đồng sáng lập chương trình hợp tác Việt-Pháp về Y khoa với GS De Paillerets nhân ngày Quốc tế Thiếu nhi 1 tháng 6 năm 1991.

 

– Phỏng vấn GS-BS Trần Đông A về kết quả chương trình sau 3 năm nhân dịp tổng thống Pháp sang thăm Việt Nam ngày 26 tháng 3 năm 1993.

 

– Phỏng vấn GS De Paillerets ngày 6 tháng 4 năm 1994 về tương lai của chương trình FFI nhân hội thảo Việt-Pháp về đào tạo Y khoa tại Hà Nội và Tp Hồ Chí Minh.

 

– Báo Nhân Dân đã đăng trên trang nhất ngày 24 tháng 9 năm 1994 việc GS-BS Trần Đông A, người phụ trách phía Việt Nam của chương trình FFI, đã được Hội đồng quốc gia Đại học Pháp và Tổng thống Pháp phong hàm Giáo sư.

 

Vậy năm 1993 được coi như bước ngoặt của sự phát triển trong việc phối hợp về Y khoa của hai nước như BS Alain Brunot đã viết trên tờ Bulletin de l’Ambassade năm 1993.
Thành công của chương trình FFI là nhờ 2 yếu tố:

 

– Một mặt là quan điểm ưu việt của những người đồng sáng lập: VS-TS-BS Dương Quang Trung và GS De Paillerets.

 

-Mặt khác là những cố gắng không mệt mỏi của những người chịu trách nhiệm cả hai phía Việt- Pháp dù đã gặp những khó khăn, cản trở nhất định trong một số năm đầu.

 

Năm 2013 là năm kỷ niệm 40 năm quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Pháp cũng là năm kỷ niệm 20 năm chương trình phối hợp đào tạo về Y khoa. Đại sứ Pháp Jean Noel Poirier trong trả lời phỏng vấn của Thông tấn xã Việt Nam ngày 21 tháng 7 năm 2013 đã cho biết có khoảng 2000 bác sĩ Việt Nam thuộc mọi chuyên ngành từ các trung tâm Hà Nội, Huế, Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh, Cần Thơ đã được đào tạo tại Pháp và nhiều người trong số này giữ các vị trí quan trọng trong các cơ quan Y tế Việt Nam hiện nay.

 

Xem trang 2