CLS: Dây rốn bám màng – mạch máu tiền đạo

Lượt xem: 410

DÂY RỐN BÁM MÀNG-MẠCH MÁU TIỀN ĐẠO
Velamentous Cord Insertion-Vasa Previa
Bs. Lâm Thị Ngọc Ánh*, Bs. Nguyễn Anh Duy*, Bs. Hà Tố Nguyên*
(*)Khoa Chẩn Đoán Hình Ánh Bệnh viện Từ Dũ – TpHCM

Download file PDF

MỞ ĐẦU:

Dây rốn là phần phụ quan trọng của bào thai nối kết thai với bánh nhau, là nguồn cung cấp dinh dưỡng và oxy từ mẹ sang thai nhi. Vị trí dây rốn bám vào bánh nhau góp phần không nhỏ trong việc tạo ra một thai phát triển bình thường hay một thai kì có nhiều nguy cơ và bệnh lý.
Có hai loại vị trí bám bất thường của dây rốn cần được nhận diện chẩn đoán trước sinh đó là dây rốn bám màng và dây rốn bám rìa vì nguy cơ kết cục thai kì xấu như sinh non, mổ lấy thai khẩn cấp, tử vong chu sinh cao nếu là song thai và nguy cơ kèm theo mạch máu tiền đạo (MMTĐ). Tần suất của dây rốn bám màng được ghi nhận khoảng 0.4-2% đơn thai và lên đến 40% ở đa thai [3, 6, 8].

Mạch máu tiền đạo là mạch máu rốn của thai, nằm gần lỗ trong cổ tử cung và không có lớp thạch Wharton bao bọc. Trong quá trình chuyển dạ sinh tự nhiên, khi màng ối vỡ, mạch máu tiền đạo sẽ bị đè ép và vỡ, thai nhi sẽ bị mất máu cấp nghiêm trọng và có nguy cơ tử vong cao. Tỷ lệ sống sơ sinh được báo cáo là 91.6% ở nhóm MMTĐ có chẩn đoán trước sinh so với 43.6% ở nhóm MMTĐ không được chẩn đoán trước sinh [17]. Các yếu tố nguy cơ cao của MMTĐ : dây rốn bám rìa/bám màng, nhau bám thấp, bánh nhau hai thuỳ và song thai[1,2]. Tất cả các trường hợp MMTĐ đều kèm theo dây rốn bám màng hoặc bám rìa nhưng chỉ khoảng 1-2% dây rốn bám màng/bám rìa có kèm theo MMTĐ [1, 3, 6, 8].

Siêu âm ngã bụng kết hợp siêu âm ngã âm đạo trên thang xám lẫn Doppler màu là phương tiện chẩn đoán phổ biến và có giá trị đối với nhóm bệnh lý này. Cần lưu ý giống như nhau tiền đạo được chẩn đoán sớm ở quí hai, khoảng 25% các trường hợp MMTĐ được chẩn đoán lúc 3 tháng giữa sẽ biến mất lúc sinh.

Qua loạt ca lâm sàng được báo cáo sau đây, chúng tôi muốn nhấn mạnh tầm quan trọng trong việc khảo sát vị trí dây rốn bám khi siêu âm 3 tháng giữa và cần loại trừ mạch máu tiền đạo trong khi siêu âm 3 tháng cuối.

Từ khoá: Dây rốn bám màng- Velamentous Cord Insertion (VCI); Dây rốn bám rìa – Marginal Cord Insertion (MCI); Mạch máu tiền đạo- Vasa Previa (VP).

BÁO CÁO CÁC TRƯỜNG HỢP LÂM SÀNG:

v TRƯỜNG HỢP 1: DÂY RỐN BÁM RÌA NHAU CỰC DƯỚI + MẠCH MÁU TIỀN ĐẠO

Thai phụ 32 tuổi, mang đơn thai 22 tuần, đến khám thai tại bệnh viện Từ Dũ và được chỉ định siêu âm 4 chiều. Khi siêu âm, chúng tôi ghi nhận hình ảnh bánh nhau bám mặt trước thấp, mép dưới bánh nhau bám gần đến lổ trong cổ tử cung. Dây rốn bám rìa mép dưới bánh nhau, mạch máu dây rốn vì thế đi ngang qua lổ trong cổ tử cung. Chẩn đoán siêu âm: Thai 22 tuần, theo dõi nhau bám thấp có kèm mạch máu tiền đao. Thai phụ được theo dõi định kì và mổ chủ động lúc 36 tuần. Em bé nặng 2700 gr, Apgar tốt.

Hình 1-2: Siêu âm ngã bụng mặt cắt dọc cho thấy nhau bám thấp mặt trước và một cấu trúc hình ống nằm đoạn dưới và băng ngang lỗ trong CTC, phổ Doppler màu giúp chẩn đoán xác định cấu trúc hình ống này là mạch máu tiền đạo

Hình 3-4: Siêu âm ngã âm đạo Doppler màu, mạch máu tiền đạo có dạng sóng của ĐM rốn và TM rốn

Hình 5: hình ảnh sau sinh dây rốn bám rìa bánh nhau (Nguồn: TS Phan Trung Hoà)

v TRƯỜNG HỢP 2: BÁNH NHAU HAI THÙY THẤP + MẠCH MÁU TIỀN ĐẠO

Thai phụ 30 tuổi, mang đơn thai 27 tuần. Khi siêu âm, chúng tôi ghi nhận vị trí nhau dạng hai thùy bám thấp mặt trước và mặt sau, giữa hai bánh nhau có một cầu mạch máu nối băng ngang lỗ trong CTC. Trên siêu âm Doppler màu, mạch máu có dạng sóng tĩnh mạch. Siêu âm chẩn đoán là nhau thai thùy bám thấp mặt trước và sau, có mạch máu tiền đạo. Thai phụ được theo dõi thai sát và mổ chủ động lúc thai 36 tuần, em bé cân nặng 3000 gr. Apgar tốt.

Hình 6-7: Siêu âm ngã bụng, trên mặt cắt dọc thấy nhau hai thùy bám thấp mặt trước và mặt sau, có một cấu trúc hình ống nối giữa hai thùy nhau chạy qua lỗ trong CTC, trên Doppler màu có dòng chảy giúp các định cấu trúc hình ống là mạch máu tiền đạo

Hình 8-9: Siêu âm ngã âm đạo Doppler màu và Doppler xung ngã bụng xác định lại chẩn đoán mạch máu tiền đạo

Hình 10: Hình ảnh sau sinh bánh nhau 2 thùy, có mạch máu thông nối giữa 2 thùy
(Nguồn TS Phan Trung Hoà)

v TRƯỜNG HỢP 3: DÂY RỐN BÁM MÀNG NGAY LỖ TRONG CỔ TỬ CUNG

Thai phụ 27 tuổi, mang đơn thai 28 tuần. Khi siêu âm, chúng tôi ghi nhận hình ảnh nhau bám mặt sau cách lổ trong cổ tử cung 15mm, dây rốn bám màng ở vị trí ngay lổ trong cổ cung và gần mép dưới bánh nhau. Bệnh nhân được chẩn đoán mạch máu tiền đạo và mổ chủ động lúc thai 36 tuần, em bé cân nặng 2900 gr, Apgar tốt.


Hình 11-12: Siêu âm ngã âm đạo 2D và Doppler dây rốn bám ngay lổ trong CTC

Hình 13: hình ảnh sau sinh dây rốn bám màng
(Nguồn: BS Vương Đình Bảo Anh)

v TRƯỜNG HỢP 4: NHAU HAI THÙY BÁM ĐÁY TỬ CUNG + MẠCH MÁU TIỀN ĐẠO

Thai phụ 35 tuổi, mang đơn thai 21.5 tuần. Khi siêu âm, chúng tôi ghi nhận hình ảnh bánh nhau dạng hai thùy bám đáy tử cung. Dây rốn bám màng ở thành trước tử cung, mạch máu dây rốn chạy vòng từ thành trước băng ngang qua vùng lổ trong cổ tử cung ra thành sau để nối vào bánh nhau phụ ở thành sau.

Hình 14-15: Siêu âm Doppler (hình trái) ngã bụng cho thấy dây rốn bám màng thành trước, mạch máu đi vòng ra thành sau ngang qua lổ trong CTC để nối với bánh nhau phụ ở mặt sau. Hình 3D dựng hình (bên phải) dây rốn bám màng (hình vòng) và mạch máu tiền đạo nối hai bánh nhau (đầu mũi tên)

Hình 16: Hình ảnh sau sinh dây rốn bám màng, có các nhánh mạch máu chạy dọc màng ối
(Nguồn BS Robert Richie)

v TRƯỜNG HỢP 5: SONG THAI HAI BÁNH NHAU HAI ỐI + DÂY RỐN MÀNG

Thai phụ 25 tuổi, mang song thai 25 tuần. Trên hình ảnh siêu âm, chúng tôi ghi nhận song thai hai bánh nhau và 2 túi ối. Nhau bám ở mặt trước thân tử cung, không có nhau tiền đạo. Tuy nhiên, dây rốn thai bên trái bám vào màng ối ngăn cách giữa 2 thai kèm theo thai chậm tăng trưởng. Thai bên phải có trọng lượng bình thường. Siêu âm chẩn đoán: Song thai 25 tuần, thai bên trái dây rốn bám màng không có mạch máu tiền đạo. Thai phụ được theo dõi và mổ chủ động lúc thai 35 tuần, cân nặng 2400 gr và 2000 gr, cả hai bé Apgar đều tốt.

Hình 17-18: Hình ảnh dây rốn bám lên màng ối ngăn cách giữa 2 thai trên 2D và Doppler

Hình 19: Hình ảnh sau sinh dây rốn bám lên màng ối ngăn cách giữa hai thai.
(Nguồn: BS Trịnh Nhựt Thư Hương)

Video tổng hợp các trường hợp: 

BÀN LUẬN:

1. Giải phẩu học:

Dây rốn được cấu tạo bao gồm hai lớp mô cơ, lớp ngoài trơn láng và lớp trong chứa một lớp dịch nhầy được gọi là thạch Wharton chứa các tế bào gốc. Có 3 mạch máu nằm trong dây rốn: 2 động mạch và 1 tĩnh mạch. Tĩnh mạch mang máu giàu oxy đến thai nhi và động mạch mang máu nghèo oxy ra khỏi thai nhi. Nhờ vào chất wharton bảo vệ mà các mạch máu dây rốn khó bị đè ép, không làm tắc nghẽn đường dẫn truyền dinh dưỡng giữa mẹ và thai.

2. Vị trí dây rốn bám vào bánh nhau:

Hình 20: Vị trí bám của dây rốn: (1) bám màng; (2) trung tâm; (3) lệch tâm; (4) bám rìa

Dây rốn bám trung tâm (Central insertion) và dây rốn bám lệch tâm (Eccentric cord insertion) chiếm hơn 90% các trường hợp thai kì và được xem là bình thường, không gây ra kết cục xấu nào cho thai.

Dây rốn bám rìa (Marginal cord insertion) và dây rốn bám màng (Velamentous cord insertion) được xem là dây rốn bám bất thường và có nguy cơ gây kết cục thai kì xấu như sinh non, mổ lấy thai khẩn cấp, tử vong chu sinh cao nếu là song thai và kèm theo mạch máu tiền đạo.

• Dây rốn bám rìa (DRBR): dây rốn không bám vào trung tâm bánh nhau, mà lại bám ở rìa (mép) bánh nhau, hay tại vị trí cách rìa bánh nhau < 2 cm [10]. Một số tác giả đề cập khoảng cách rìa bánh nhau < 1cm [12] hoặc < 3 cm [5]. Tỉ lệ dây rốn bám rìa chiếm khoảng 7% thai kì đơn thai nhưng khoảng 25% thai kì đa thai [6]. DRBR còn được gọi là kiểu hình cây vợt (battledore insertion)

• Dây rốn bám màng (Velamentous cord insertion): Dây rốn bám trực tiếp vào màng ối nên vì vậy mà các mạch máu chạy ngang giữa màng ối và màng đệm trước khi đến vào đến bánh nhau. Các mạch máu lúc này không còn được lớp thạch wharton bảo vệ , chúng dễ bị chèn ép và nguy cơ đứt ra khi chuyển dạ gây tử vong thai nhi. Đặc biệt là khi DRBM và vị trí gần lổ trong cổ tử cung thì được gọi là mạch máu tiền đạo. DRBM tương đối hiếm, khoảng 1% thai kì đơn thai và khoảng 7% thai kì song thai [9]

Hình 21: Dây rốn bám màng không kèm MMTĐ (Trái) và có kèm MMTĐ (Phải)
(Nguồn: Internet)

3. Nguồn gốc sinh bệnh học:

Bệnh sinh của bất thường vị trí dây rốn vẫn chưa được hiểu rõ. Ba giả thuyết đã được đề cập:

(1) Sự cắm nguyên thủy bất thường – thuyết phân cực: vị trí bám dây rốn được xác định tại nơi bám khởi đầu theo định hướng của ngôi thai liên quan đến bề mặt nội mạc tử cung.

(2) Thuyết “hướng dinh dưỡng” cho rằng bánh nhau phát triển tốt ở vùng có lượng máu nuôi dồi dào và bị teo nhỏ kém phát triển ở vùng có lưu lượng máu nuôi kém

(3) Thuyết “ sự phát triển bánh nhau bất thường do giảm phân nhánh mạch máu màng đệm” cho rằng DR không bám trung tâm có nguồn gốc từ những mạch máu bất thường trong bánh nhau [9].

4. Mạch máu tiền đạo:

• Định nghĩa: Mạch máu tiền đạo (MMTĐ) là mạch máu rốn thai chạy giữa màng ối và màng đệm có vị trí gần lỗ trong cổ tử cung (băng qua lỗ trong hoặc cách lỗ trong < 2 cm) và không được thạch wharton bao bọc.

• Tần suất: Tần suất của MMTĐ khoảng 1/2500 thai kì [3]. Theo Ruiter, tần suất của MMTĐ ở Anh quốc là 0.06% thai kì [14].

• Các yếu tố nguy cơ cao của MMTĐ : dây rốn bám rìa/bám màng, nhau bám thấp, bánh nhau hai thuỳ và song thai [1, 2]. Tất cả trường hợp MMTĐ đều kèm theo dây rốn bám màng hoặc bám rìa nhưng chỉ khoảng 1-2% dây rốn bám màng/bám rìa có kèm theo MMTĐ [1, 3, 6, 8].

• Bệnh sinh: Nguyên nhân gây MMTĐ chưa rõ, có giả thuyết là khi bánh nhau bám thấp hoặc tiền đạo ở quý hai, sau đó bánh nhau dịch chuyển lên cao nhưng mạch máu rốn không dịch chuyển theo. Những yếu tố làm tăng nguy cơ xuất hiện MMTĐ bao gồm dây rốn bám màng, vị trí bám của dây rốn nằm ở phần thấp của tử cung lúc tam cá nguyệt 1, nhau tiền đạo hoặc nhau bám thấp ở tam cá nguyệt 2, nhau đa thùy, bánh nhau phụ, đa thai [18].

• Phân loại

Hình 22: Type 1(trái): MMTĐ xuất phát trực tiếp từ DRBM ;
Type 2 (phải): MMTĐ là cầu nối giữa bánh nhau chính và bánh nhau phụ (Nguồn: Internet)

• Chẩn đoán:

Khám lâm sàng hiếm khi phát hiện được MMTĐ. Có thể nghi ngờ MMTĐ khi khám âm đạo thấy cấu trúc có tín hiệu mạch đập ở vùng màng gần lỗ trong cổ tử cung. Nếu trường hợp không có chẩn đoán MMTĐ trước sanh, lâm sàng nên nghi ngờ MMTĐ nếu có tình trạng xuất huyết âm đạo nhiều ngay sau vỡ ối và tim thai bất thường (suy nút xoang hoặc nhịp chậm).

Siêu âm là phương tiện chẩn đoán đầu tay và có giá trị. Trên siêu âm thang xám, MMTĐ có hình ảnh là một cấu trúc echo trống dạng ống nằm gần lỗ trong cổ tử cung. Doppler màu và phổ giúp khẳng định cấu trúc trên là mạch máu, có thể dạng phổ động mạch hoặc tĩnh mạch. Siêu âm ngã bụng sẽ giúp sàng lọc ra nhóm nghi ngờ có mạch máu tiền đạo và tiếp theo là siêu âm ngã âm đạo để chẩn đoán xác định [4, 6, 12].

Dù MMTĐ có thể chẩn đoán trước sinh bằng siêu âm ngã âm đạo nhưng một số ca vẫn bị bỏ sót. Trong một nghiên cứu tổng quan hệ thống gồm 8 nghiên cứu với mẫu >400.000 thai phụ và 138 ca MMTĐ, tỷ lệ phát hiện trung bình MMTĐ của siêu âm là 93% và độ đặc hiệu là 99% [14].
Siêu âm chẩn đoán vị trí dây rốn bám và MMTĐ được khuyến cáo ở tuổi thai 18-26 tuần, độ nhạy giảm nếu chỉ siêu âm ở quí 3 [14].

Cần lưu ý giống như nhau tiền đạo được chẩn đoán sớm ở quí hai, khoảng 25% các trường hợp MMTĐ được chẩn đoán lúc 3 tháng giữa sẽ biến mất lúc sinh[14]. Cơ chế là do sự hình thành đoạn dưới và xu hướng dịch chuyển lên trên của bánh nhau ở 3 tháng cuối thai kì nên MMTĐ sẽ rời xa lỗ trong cổ tử cung (>2cm) dù vị trí dây rốn bám vẫn bất thường (bám màng, bám rìa). Theo Erfani và cs nếu MMTĐ được chẩn đoán trước 24 tuần thì khả năng không còn mạch máu tiền đạo sau đó cao hơn so với chẩn đoán sau 24 tuần, OR = 7.9, 95% CI 2.1 – 29.4 [8].

Hình 23: Mạch máu tiền đạo tự biến mất: khoảng cách mạch máu- lỗ trong CTC 1.5cm lúc 22 tuần, 2.5 cm lúc 26 tuần và 3.5cm lúc thai 35 tuần.

• Chẩn đoán phân biệt:

– Ngôi dây rốn: Một đoạn dây rốn tự do trong khoang ối nằm gần lỗ trong cổ tử cung có thể gây nhầm lẫn. Tuy nhiên, vòng dây rốn tự do được bao quanh bởi thạch Wharton và có thể thay đổi vị trí khi thay đổi tư thế bệnh nhân. Ngoài ra, để khẳng định ngôi dây rốn, cần xác định được vị trí bám bình thường của dây rốn ở bánh nhau. Ngôi dây rốn cũng cần siêu âm theo dõi sát ở cuối thai kì vì nguy cơ sa dây rốn nếu ối vỡ tự nhiên.

– Mạch máu vùng cổ và thân tử cung cũng có thể lầm tưởng một MMTĐ. Sử dụng Doppler phổ giúp xác định nhịp đập MMTĐ tương ứng với nhịp tim thai còn mạch máu cổ tử cung tương hợp với nhịp tim mẹ. Dãn tĩnh mạch vùng cổ tử cung thường hiếm gặp ở thai phụ, có hình ảnh dạng ống ngoằn ngoèo và không đi băng qua lỗ trong cổ tử cung.

– Dải ối hoặc màng ối – màng đệm không áp sát sẽ cho hình ảnh giống MMTĐ nhưng khi phổ Doppler không có tín hiệu mạch máu bên trong.

5. Kết cục thai kì:

Vị trí dây rốn bám bất thường (màng/rìa) có liên quan đến kết cục thai kì xấu vì tần suất sinh non, thai nhỏ, Apgar thấp, mổ lấy thai khẩn cấp cao hơn trong dân số chung [2,4,5,8]. Theo Boulis và cộng sự [4] tần suất thai nhỏ là 31%, sinh non 29.5%, mổ lấy thai khẩn cấp 69.49% ở nhóm có dây rốn bám bất thường. Dây rốn bám màng/bám rìa còn có nguy cơ xuất huyết ở giai đoạn 3 của chuyển dạ nên cần chủ động bóc nhau bằng tay[7].

Tuy nhiên, tỷ lệ chết thai chết trong tử cung và chết chu sinh ở nhóm có dây rốn bám bất thường và nhóm dây rốn bám bình thường/dân số chung có sự khác biệt giữa các nghiên cứu. Theo một nghiên cứu lớn với 9500 trường hợp dây rốn bám bất thường và hơn 600.000 thai có dây rốn bám bình thường, thì có sự khác biệt về tỷ lệ tử vong 1.6% so với 0.7% [7]. Tuy nhiên theo nghiên cứu của Raisanen S và cộng sự [15] với mẫu 26.894 thai phụ và 633 ca có dây rốn bám bất thường thì tần suất tử vong không có sự khác biệt giữa hai nhóm: 0.5% so với 0.3%.

Ở nhóm song thai một bánh nhau, tỷ lệ tử vong chu sinh ở nhóm có dây rốn bám bất thường được báo cáo cao hơn rõ so với nhóm có dây rốn bám bình thường, 30% so với 10.5% [6].

6. Sàng lọc:

Do tần suất bệnh hiếm nên khuyến cáo có hay không tầm soát thường qui MMTĐ trong thai kì có sự khác nhau giữa các hội nghề nghiệp và quốc gia trên thế giới.
Theo khuyến cáo thực hành siêu âm quí 2 của ISUOG (2010) thì không khuyến cáo sàng lọc thường qui vị trí bám dây rốn và MMTĐ.

Hiệp hội Sản Phụ khoa Hoa Kỳ (ACOG) khuyến cáo với những thai có nhau bám thấp, nhau nhiều thùy hoặc có bánh nhau phụ và dây rốn bám màng/ bám rìa cần sử dụng siêu âm đầu dò âm đạo Doppler để tìm MMTĐ từ quý 2 [15]. Hội Y học Sản phụ và thai (SMFM) khuyến cáo ở những thai có nhau tiền đạo hoặc bám thấp từ tam cá nguyện 2 cần dùng siêu âm đầu dò âm đạo khảo sát tìm MMTĐ khi thai 32 tuần [16].

7. Quản lý và xử trí

Hiện nay vẫn chưa có sự đồng thuận hay khuyến cáo nào cho xử trí dây rốn bám bất thường. Tuy nhiên do có sự tương quan rõ giữa dây rốn bám bất thường và mạch máu tiền đạo, nên khi siêu âm xác định dây rốn bám bất thường, cần loại trừ MMTĐ đi kèm.
Đối với mạch máu tiền đạo, thai phụ cần được nhập viện theo dõi lúc thai 30-34 tuần. Để theo dõi sát hơn các dấu hiện chèn ép mạch máu cuống rốn, nên đo NST mỗi tuần từ tuần thứ 32 [18]. Việc sử dụng hỗ trợ phổi là cần thiết lúc thai 28 đến 32 tuần tuổi.

ACOG và SMFM khuyến cáo nên có kế hoạch mổ lấy thai chủ động từ 34 – 37 tuần [1, 17]. Không có bằng chứng rõ ràng để đưa ra khuyến cáo thời gian chấm dứt thai kỳ ở song thai có MMTĐ. Tuy nhiên nếu thai phụ có cổ tử cung ngắn hoặc có dấu dọa sanh non thì nên chấm dứt lúc thai 32-33 tuần [3]. Mổ cấp cứu khẩn nếu thấy có xuất huyết, có dấu chèn ép cuống rốn, có dấu chuyển dạ sớm.

Cắt đốt bằng laser trong tử cung đã được Quintero và cộng sự mô tả trong trường hợp MMTD type 2. Phương pháp điều trị này có thể có một vai trò trong việc xử trí các trường hợp mạch tiền đạo trong tương lai [13]

Sơ đồ 1: Sơ đồ quản lý trước sinh những bệnh nhân nghi ngờ MMTĐ
khi siêu âm ở 3 tháng giữa thai kì [7].

KẾT LUẬN:

Bất thường vị trí bám của dây rốn là một vấn đề cần được chú trọng vì liên quan đến kết cục thai kì xấu, đặc biệt là nguy cơ kèm theo MMTĐ. MMTĐ cần mổ chủ động để tránh chuyển dạ tự nhiên có thể làm thai mất máu cấp và có nguy cơ tử vong. Chúng tôi hy vọng những người làm siêu âm tiền sản sẽ nâng cao nhận thức về một bệnh lý tuy tần suất hiếm gặp nhưng nếu bỏ sót có thể gây một hậu quả nghiêm trọng. Chúng tôi kiến nghị, siêu âm quí 2 cần xác định vị trí dây rốn bám và siêu âm quí 3 cần loại trừ khả năng MMTĐ bằng siêu âm ngã âm đạo những trường hợp có nguy cơ cao như dây rốn bám màng, nhau bám thấp/bám mép, thai nhỏ, song thai.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1.  ACOG Committee Opinion No. 764: Medically Indicated Late-Preterm and Early-Term Deliveries. Obstetrics and gynecology. 2019;133(2):e151-e5.
  2. Baulies S, Maiz N, Muñoz A, Torrents M, Echevarría M, Serra B. Prenatal ultrasound diagnosis of vasa praevia and analysis of risk factors. Prenatal diagnosis. 2007;27(7):595-9.
  3. Bronsteen R, Whitten A, Balasubramanian M, Lee W, Lorenz R, Redman M, et al. Vasa previa: clinical presentations, outcomes, and implications for management. Obstetrics and gynecology. 2013;122(2 Pt 1):352-7.
  4. Brouillet S, Dufour A, Prot F, Feige J-J, Equy V, Alfaidy N, et al. Influence of the Umbilical Cord Insertion Site on the Optimal Individual Birth Weight Achievement. BioMed Research International. 2014;2014:341251.
  5. Cathrine Ebbing Synnøve L, Johnsen Susanne Albrechtsen Ingvild D, Rasmussen. SCVS. Velamentous or marginal cord insertion and the risk of spontaneous preterm birth, prelabor rupture of the membranes, and anomalous cord length, a population‐based study. AOGS. 2016;96(1):78-85.
  6. Hack KEA, van Gemert MJC, Lopriore E, Schaap AHP, Eggink AJ, Elias SG, et al. Placental characteristics of monoamniotic twin pregnancies in relation to perinatal outcome. Placenta. 2009;30(1):62–
  7. Ebbing C, T. K, L. JS, S. A, S. R. Third stage of labor risks in velamentous and marginal cord insertion: a population-based study. Acta obstetricia et gynecologica Scandinavica. 2015;94(8):878-83.
  8. Erfani H, Haeri S, Shainker SA, Saad AF, Ruano R, Dunn TN, et al. Vasa previa: a multicenter retrospective cohort study. American journal of obstetrics and gynecology. 2019;221(6):644.e1-.e5.
  9. Ismail KI, Hannigan A, O’Donoghue K, Cotter A. Abnormal placental cord insertion and adverse pregnancy outcomes: a systematic review and meta-analysis. Systematic Reviews. 2017;6(1):242.
  10. Liu CC, Pretorius DH, Scioscia AL, Hull AD. Sonographic prenatal diagnosis of marginal placental cord insertion: clinical importance. Journal of ultrasound in medicine : official journal of the American Institute of Ultrasound in Medicine. 2002;21(6):627-32.
  11. Melcer Y, Maymon R, Pekar-Zlotin M, Levinsohn-Tavor O, Tovbin J, E. J. Evaluation of the impact of vasa previa on feto-placental hormonal synthesis and fetal growth. European journal of obstetrics, gynecology, and reproductive biology. 2017;215:193-6.
  12. Merz E, F. B. Ultrasound in obstetrics and gynecology. Thieme Medical Publishers. 2005:ISBN:1588901475.
  13. Quintero RA, Kontopoulos EV, Bornick PW, Allen MH. In utero laser treatment of type II vasa previa. The journal of maternal-fetal & neonatal medicine : the official journal of the European Association of Perinatal Medicine, the Federation of Asia and Oceania Perinatal Societies, the International Society of Perinatal Obstet. 2007;20(12):847-51.
  14. Ruiter L, Kok N, Limpens J, Derks JB, De Graaf IM MB, al. e. Incidence of and risk indicators for vasa praevia: a systematic review. BJOG Int J Obstet Gynaecol. 2016;123(8):1278-87.
  15. Raisanen S, Georgiadis L, Harju M, Keski-Nisula L, Heinonen S. Risk factors and adverse pregnancy outcomes among births affected by velamentous umbilical cord insertion: a retrospective population-based register study. Eur J Obstet Gynecol Reprod Biol. 2012;16
  16. Sinkey RG, Odibo AO. Vasa previa screening strategies: decision and cost-effectiveness analysis. Ultrasound in obstetrics & gynecology : the official journal of the International Society of Ultrasound in Obstetrics and Gynecology. 2018;52(4):522-9.
  17. Sinkey RG, Odibo AO, Dashe JS. Diagnosis and management of vasa previa. Am J Obstet Gynecol. 2015;213(5):615-9.
  18. Swank ML, Garite TJ, Maurel K, Das A, Perlow JH, Combs CA, et al. Vasa previa: diagnosis and management. American journal of obstetrics and gynecology. 2016;215(2):223.e1-6.
Tải file đính kèm: